Đá trầm tích

Đá trầm tích là một trong ba nhóm đá chính (cùng với đá lửa và đá biến chất) và được hình thành theo bốn cách chính: bằng cách lắng đọng các tàn tích phong hóa của các loại đá khác (được gọi là đá trầm tích ‘clastic’); bởi sự tích tụ và củng cố trầm tích; bằng cách lắng đọng các kết quả của hoạt động sinh học; và do kết tủa từ dung dịch.

Đá trầm tích bao gồm các loại phổ biến như đá phấn, đá vôi, sa thạch, đất sét và đá phiến.

Đá trầm tích chiếm 75% bề mặt Trái đất.

Bốn quá trình cơ bản có liên quan đến sự hình thành của đá trầm tích nguyên sinh: phong hóa (xói mòn) gây ra chủ yếu do ma sát của sóng, vận chuyển nơi trầm tích được mang theo dòng chảy, lắng đọng và nén chặt nơi trầm tích bị ép lại với nhau tạo thành đá loại này.

Đá trầm tích được hình thành từ áp lực quá tải khi các hạt trầm tích lắng đọng ra khỏi không khí, băng hoặc dòng nước mang các hạt lơ lửng.

Khi sự lắng đọng trầm tích tích tụ, áp lực quá tải (hoặc ‘thạch cao’) ép trầm tích thành chất rắn phân lớp trong một quá trình được gọi là thạch hóa (‘hình thành đá’) và chất lỏng liên kết ban đầu bị trục xuất.

Thuật ngữ diagenesis được sử dụng để mô tả tất cả các thay đổi hóa học, vật lý và sinh học, bao gồm quá trình xi măng, trải qua một lớp trầm tích sau khi lắng đọng ban đầu và trong và sau khi hóa thạch, không bao gồm thời tiết bề mặt.

Lưu ý:   Văn bản trên được trích từ bài viết ” Đá trầm tích ” trên Wikipedia , đã được phát hành theo Giấy phép Tài liệu Tự do GNU .
Th7 27, 2020

Những câu chuyện liên quan